Qui định về quyền sở hữu trí tuệ của Thụy Điển

Tại Thụy Điển, các nỗ lực được thực hiện ngày càng nhiều để bảo vệ và khai thác quyền sở hữu công nghiệp, đồng thời chống lại sự giả mạo trong sản xuất.

Qui định về bản quyền ở Thụy Điển

Hệ thống pháp lí của Thụy Điển đủ hiệu lực để bảo vệ mọi quyền sở hữu. Là nước ký Hiệp định EEA năm 1993, Thụy Điển đã gia nhập các hiệp ước đa phương về sở hữu công nghiệp, trí tuệ và thương mại.

Thụy Điển là thành viên của Hiệp ước quốc tế “Paris Union” về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (bằng sáng chế, thương hiệu, tên thương mại và kiểu dáng công nghiệp) cùng với sự tham gia của trên 80 nước khác.

Các ủy viên ban quản trị kinh doanh và các nhà đầu tư từ các quốc gia này sẽ được hưởng qui chế đối xử quốc gia ở Thụy Điển, theo những qui định về bảo vệ bằng sáng chế và thương hiệu.

Các sản phẩm và thiết kế sản phẩm có thể được bảo hộ bởi nhiều loại bản quyền khác nhau. Các bản quyền này có thể được kết hợp và được pháp luật bảo vệ nhằm động viên và khuyến khích các thành tựu về phát minh sáng chế.

Tại Thụy Điển, các nỗ lực được thực hiện ngày càng nhiều để bảo vệ và khai thác quyền sở hữu công nghiệp, đồng thời chống lại sự giả mạo trong sản xuất.

Những người không thường trú tại Thụy Điển cũng có thể xin độc quyền sản phẩm bằng nhiều hình thức, thủ tục đăng kí khác nhau. Tuy nhiên, công ty hoặc doanh nhân ở nước ngoài cần phải có người đại diện là công dân Thụy Điển để thay mặt họ làm việc với cơ quan cấp bằng sáng chế.

Qui định về quyền sở hữu trí tuệ của Thụy Điển
Ảnh minh họa. (Nguồn: freepik)

Qui định về nhãn hiệu thương mại

Nhãn hiệu thương mại có thể bao gồm bất cứ những gì biểu hiện về nguồn gốc thương mại của một sản phẩm hay dịch vụ.

Ví dụ như địa chỉ thương mại, mẫu mã bao bì hoặc thiết kế nội thất của cửa hàng. Tuy vậy các nhãn hiệu thông dụng nhất là nhãn hiệu bằng chữ hoặc hình tượng.

Sự bảo vệ của luật pháp đối với các nhãn hiệu thương mại thông qua việc đăng kí hoặc sử dụng rộng rãi. Sử dụng rộng rãi có nghĩa là sử dụng đến mức độ mà nhãn hiệu trở nên nổi tiếng đối với người tiêu dùng.

Một người muốn có độc quyền về nhãn hiệu thương mại thì phải mất công chứng minh điều đó vì thế tốt nhất là nên đăng kí trước bất kì nhãn hiệu nào mà mình muốn dùng.

Khi tra cứu trong danh bạ nhãn hiệu thương mại, có thể biết được thông tin liên quan đến những nhãn hiệu hiện đã được đăng kí. Thông tin này công khai và có thể yêu cầu các dịch vụ tìm kiếm thông tin của Cơ quan cấp bằng phát minh giúp đỡ.

Để đăng ký, nhãn hiệu thương mại phải khác biệt và không dễ gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đang có.

Vấn đề được xem xét là loại nhãn hiệu đó sẽ được sử dụng cho hàng hóa hoặc dịch vụ nào để tránh trùng lặp. Tất cả loại hàng hóa và dịch vụ được chia thành 42 loại. Việc kiểm tra khả năng trùng lặp dựa trên ấn tượng chung của nhãn hiệu hàng hóa và dịch vụ liên quan.

Sự độc quyền về nhãn hiệu thương mại có nghĩa là không người nào khác được phép sử dụng nhãn hiệu này để tránh gây nhầm lẫn.

Yếu tố tương tự cũng được xét đến giống như trong thủ tục đăng kí. Việc sử dụng nhãn hiệu thương mại tương tự sẽ là một vi phạm đưa đến quyền đòi hỏi được bồi thường hoặc bị khởi tố trước tòa án.

Qui định về bằng sáng chế

Bằng sáng chế được lập ra để bảo vệ tính độc quyền của các sáng chế. Nói cách khác, bằng sáng chế là việc bảo vệ các phát minh sáng kiến. Chỉ có những sản phẩm và công nghệ mang tính kĩ thuật mới được xem như là những sáng chế.

Để có được bằng sáng chế, các phát minh phải tuyệt đối mới, nghĩa là chúng chưa từng được trình bày ở bất cứ nơi nào trên thế giới trước đó. Phát minh còn phải có ích về phương diện kĩ thuật và phải có một mức độ sáng tạo nào đó.

Thời hạn bảo hộ của một bằng sáng chế có thể kéo dài đến 20 năm. Người phát minh phải đóng lệ phí hàng năm và qua đó có thể lựa chọn để tiếp tục hoặc ngừng bảo hộ.

Thụy Điển có thể giải quyết việc xin bảo hộ hoặc đăng kí bằng sáng chế tại bất kì quốc gia nào đã kí các hiệp ước này.

Sự bảo vệ bằng sáng chế có nghĩa là được độc quyền nhập vào Thụy Điển, sản xuất và bán sản phẩm ở Thụy Điển. Nếu vi phạm bằng sáng chế có thể phải bồi thường hoặc bị khởi tố trước tòa.

Quyền tác giả

Quyền tác giả là sự bảo vệ việc sáng tạo nghệ thuật. Một tác phẩm thể hiện một mức độ sáng tạo nào đó đương nhiên sẽ được bảo vệ bởi quyền tác giả. Tác phẩm đó có thể có giá trị văn chương, kịch, âm nhạc hoặc nghệ thuật.

Thủ tục đăng kí quyền tác giả là không cần thiết, thậm chí không có thủ tục này ở Thụy Điển. Quyền tác giả bao gồm độc quyền xuất bản và tái xuất bản tác phẩm, hoặc kịch bản hoặc quyền trình bày trước công chúng.

Sự xúc phạm hoặc xâm phạm tính nguyên bản và những quyền lợi cá nhân của người nghệ sĩ bị ngăn cấm. Tác quyền có hiệu lực cho đến 50 năm sau khi người nghệ sĩ qua đời.

Nhiều đoàn thể được thành lập với mục đích bảo vệ quyền lợi của các nhà xuất bản và nghệ sĩ đối với vấn đề bản quyền. Những đoàn thể này hỗ trợ trong việc bảo vệ đầu tư vào các tác phẩm nghệ thuật được xuất khẩu sang Thụy Điển.

Thụy Điển đã kí nhiều hiệp ước đa phương về bảo vệ quyền tác giả bao gồm Hiệp ước Berne 1971 và hiệp ước Rome 1961. Luật pháp Thụy Điển cũng bảo vệ quyền xuất bản từ một số nước khác.

Kiểu dáng công nghiệp

Là nước kí hiệp định TRIPS, Thụy Điển cam kết tự bảo vệ các kiểu dáng công nghiệp. Việc bảo vệ kiểu dáng là sự bảo vệ vẻ bên ngoài và kiểu dáng của hàng hóa.

Bảo vệ mẫu mã của hàng hóa không bao gồm việc bảo vệ chức năng của sản phẩm dưới bất kì hình thức nào.

Việc bảo vệ cũng phải dựa trên việc đăng kí và thủ tục đăng kí cũng giống như thủ tục đăng kí bằng sáng chế. Kiểu mẫu phải mới mẻ hoàn toàn.

Mẫu mã muốn đăng kí phải có một độ sáng tạo nhất định và không được giống mẫu mã kiểu dáng hiện có.

Thời hạn hiệu lực cho một mẫu mã kiểu dáng công nghiệp đăng kí kéo dài tối đa là 15 năm và cứ mỗi năm phải lập thủ tục đăng kí lại.